Khi nào bắt đầu chạy thận

Câu hỏi khi nào bắt đầu chạy thận là một câu hỏi khó. INS KDIGO đưa ra nhiều hướng dẫn, tuy nhiên, họ nhấn mạnh là khi mà các dấu hiệu lâm sàng thể hiện chức năng thận kém không thể duy trì đầy đủ chức năng nữa thì băt đầu điều trị chạy thận hoặc phương pháp điều trị khác. Các bạn cũng có thể tham khảo các phần mềm tính toán nguy cơ lọc máu như  QKidney®-2016 risk calculator, US Veterans Affairs được phát triển bởi Drawz (2013), với khả năng tiên đoán nguy cơ ESRD trên 1 năm. …

A. Hội chứng tăng ure huyết

Hội chứng tăng ure máu bao gồm nhiều triệu chứng và dấu hiệu mà là kết quả từ các tác động gây độc của tăng cao nồng độ của nitrogenous và các chất thải trong máu.

  1. Triệu chứng

Bệnh nhân tăng ure huyết thường có triệu chứng buồn nôn và nôn khi thức dậy. Họ thường mất đi cảm giác thèm ăn giống như họ nghĩ rằng ăn sẽ làm cho mình trở lên ốm yếu. Họ thường thấy mình luôn mệt mỏi, yếu và lạnh. Tình trạng trí óc thay đổi; đầu tiên thay đổi sự khôn khéo, sau đó là rối loạn ý thức, hôn mê.

  1. Dấu hiệu

Các dấu hiệu của tăng ure huyết thường ít, do bệnh nhân hiện nay chú ý hơn đến quá trình điều trị ở giai đoạn sớm của CKD. Tuy nhiên,  một số bênh nhân tăng ure máu có tiếng cọ màng ngoài tim hoặc bằng chứng tràn dịch màng tim, các điều kiện yêu cầu lọc máu ngay. Đau mỏi cơ tay hoặc cổ chân có thể là bằng chứng của rối loạn thần kinh tăng ure máu, cũng cần đòi hỏi lọc máu. Run, rung giật cơ, co giật là các dấu hiệu của bệnh não tăng ure huyết. Thời gian chảy máu kéo dài xảy ra và có thể cản trở phẫu thuật, thủ thuật của bệnh nhân.

  1. Dấu hiệu và triệu chứng: tăng ure máu và thiếu máu.

Nhiều bệnh nhân có dấu hiệu và triệu chứng riêng được gắn cho tăng ure máu có thể một phần là do thiếu máu. Thiếu máu ở bệnh nhân CKD sẽ cải thiện với ESA, họ thường giảm đi sự mệt mỏi và tăng đáng kể các hoạt động thể lực. Thời gian chảy máu có thể cải thiện và có thể cải thiện cả chứng đau thắt ngực. Đồng thời cải thiện cả chức năng nhận thức.

  1. Mối liên quan giữa tăng ure máu và eGFR

Hội chứng tăng ure máu thường xuất hiện khi eGFR/1.73m2 dưới 8 – 10 mL/phút. Tuy nhiên dựa trên các kết quả của thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát, được gọi là nghiên cứu  IDEAL (Cooper, 2010), kế hoạch lọc máu sớm (cả chạy thận và lọc màng bụng) gây tăng chi phí nhưng không liên quan đến tăng chất lượng cuộc sống và tỷ lệ sống. Trong thử nghiệm IDEAL, eGFR/1.73m2 được ước tính bằng công thức MDRD trong nhóm bắt đầu điều trị sớm  là 9 mL/phút so với 7.2 mL/phút ở nhóm bắt đầu muộn. Có sự thường xuyên kiểm chứng chéo ở nhóm bắt đầu muộn, như chú ý đến sự chờ đợi cho eGFR thấp hơn để bắt đầu chạy thận. Kết quả của thử nghiệm nhấn mạnh rằng, khi eGFR/1.73m2 xung quanh 7 mL/phút, triệu chứng của tăng ure huyết với thiếu máu hoặc thừa dịch là không phổ biến và những bệnh nhân này thường được cho bắt đầu lọc máu bởi các nhà cung cấp dịch vụ y tế.

B. Chỉ định lọc máu

Thường lọc máu được chỉ định ở người lớn khi eGFR/1.73m2 giảm đến 8 mL/phút. Tuy nhiên, mức cao hơn cần lọc máu nên bắt đầu eGFR/1.73m2 cao hơn, có lẽ là ở khoảng 10 – 12 mL/phút, và một số ở mức cao hơn. Bệnh nhân có suy tim và ranh giới của eGFR có thể gây ra các vấn đề với chịu đựng được với mức độ dịch và có thể bắt đầu lọc máu sớm hơn. Các điều kiện có thể phải tranh luận lọc máu sớm được liệt kê ở bảng 2.2.

Cần chú ý đến viêm màng bụng hoặc viêm màng phổi mà không có nguyên nhân là một chỉ định lọc máu cấp cứu, riêng viêm màng tim, nguy cơ tiến triển nhanh của tràn dịch màng tim và chèn ép tim xuất hiện. Suy chức năng thần kinh, đặc biệt là dấu hiệu của bệnh não hoặc bệnh thần kinh do tăng ure máu là nguyên nhân dẫn đến lọc máu nhanh, thời gian chảy máu kéo dài, có thể gây ra chảy máu đường tiêu hóa và các chảy máu khác. Hầu hết các chỉ định lọc máu cấp cứu ở bệnh nhân có suy thận cấp trên bệnh thận mạn. Lọc máu cấp sẽ được thảo luận chi tiết ở chương 10 và 24.

Bảng 2.2: Các biến chứng chỉ điểm bắt đầu điều trị thay thế thận
–         Thừa thể tích ngoại bào không đáp ứng với điều trị và/hoặc tăng huyết áp

–         Tăng kali máu dai dẳng dù đã hạn chế trong chế độ ăn và điều trị bằng thuốc

–         Toan chuyển hóa dai dẳng đã điều trị bằng bicarbonate

–         Tăng phosphate máu dai dẳng dù đã được tư vấn chế độ ăn và điều trị bằng thuốc gắn  phosphorua máu

–         Thiếu máu dai dẳng dù đã điều trị bằng ESA và sắt

–         Sự suy giảm hoạt động sinh lý và hạnh phúc gia đình

–         Mất cân gần đây hoặc tình trạng dinh dưỡng giảm sút, đặc biệt nếu xuất hiện buồn nôn, nôn, hoặc các bằng chứng khác của bệnh dạ dầy, tá tràng

Chỉ định cấp cứu

–         Suy thần kinh (vd, bệnh thần kinh, bệnh não, rối loạn tâm thần

–         Viêm màng phổi hoặc màng tim không giải thích

–         Biểu hiện chẩy máu tạng do thời gian chảy máu kéo dài

Chương này được chia làm 3 phần:

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*