Quản lý biến chứng bệnh thận mạn – Thăng bằng điện giải, toan kiềm

đo protein niệu

Sử biến đổi bất thường điện giải xuất hiện ở bệnh nhân giảm chức năng thận. Hầu hết là tăng kali máu. Toan có thể có dù ở mức độ nhẹ và thường có khoảng trống anion bình thường đến khi chức năng thận suy nặng. Điều trị tăng kali máu cấp sẽ được thảo luận sau. Trong bệnh lý mạn, tăng kali máu thường do hậu quả của ăn quá nhiều kali, và đặc biệt, thức ăn có nhiều kali là hoa quả. Tăng kali máu thường gặp ở bệnh nhân uống ACEi hoặc ARB hoặc thuốc kháng receptor mineralcorticoid như là aldosterol. Hay gặp ở bệnh nhân uống thuốc chống viêm NSAID cũng như là trimetoprim. Các phát triển gần đây của chất hấp thụ qua đường tiêu hóa để phòng hấp thu kali ở ruột có thể cho phép sử dụng rộng rãi hơn thuốc nhóm rennin-angiotensin aldosterol.

Toan chuyển hóa mạn tính có hậu quả tăng tái hấp thu, và có liên quan đến tiến triển CKD. Sử dụng Na bicarbonate được khuyến cáo duy trì HCO3 trên 22 mmol/L. Lượng bicarbonate natri uống từ 0.5 – 1 mmol/Kg/ngày. Kiềm hóa đã cho thấy làm chậm tiến triển bệnh CKD trong một số thử nghiệm ngẫu nhiên nhỏ.

CHUẨN BỊ MỘT BỆNH NHÂN CHẠY THẬN.

Ở đây, bao gồm chuẩn bị cho bệnh nhân chạy thận hoặc ghép thận; đặt đường vào mạch máu hoặc màng bụng; lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp nhất (lọc màng bụng, trung tâm chạy thận, chạy thận ở nhà); tiêm vaccine, duy trì dinh dưỡng, kiểm soát phosphorua; và phòng ngừa thừa dịch và tăng huyết áp. Các vấn đề này sẽ được thảo luận chi tiết hơn ở chương tiếp theo.

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*