Giới thiệu các loại đường vào mạch máu trong thận nhân tạo

Có ba loại đường vào mạch máu trong thận nhân tạo. Thông động tĩnh mạch tự thân (AVF) và mảnh ghép động tĩnh mạch (AVG) (hai loại này được gọi quen thuộc là cầu tay) là các dạng đường vào mạch máu phổ biến nhất được sử dụng cho chạy thận nhân tạo ngắt quãng. Một AVF được nối hai mạch máu tiếp hợp giữa một động mạch và một tĩnh mạch tự nhiên, cho phép máu chảy trực tiếp từ động mạch đến tĩnh mạch. Về kinh điển, hai mạch máu gần nhau được làm ở cổ tay giữa động mạch quay và tĩnh mạch đầu, mặc dù có rất nhiều vị trí có thể làm, với các mạch máu liền kề ở cẳng tay, khuỷu tay, cánh tay. Tương tự là AVG, ngoại trừ khoảng cách giữa động mạch nuôi và tĩnh mạch được tạo cầu bằng một ống làm từ vật liệu nhân tạo. Hầu hết các loạivật liệu được sử dụng làm cầu nối là polytetrafluoroethylene (PTFE). Loại đường vào mạch máu thứ ba, catheter tĩnh mạch có cuff, được thảo luận ở chương tiếp theo.

Xem danh sách các phần chương 6 – 9 tại đây
Một AVF không thể được sử dụng ngay lập tức mà cần thời gian trưởng thành khoảng 6 – 8 tuần. Trong quá trình trưởng thành, máu chảy qua lỗ thông mới tăng dần do sự to ra của cả động mạch và tĩnh mạch. Áp lực và dòng sẽ làm cho thành tĩnh mạch dầy lên, là vị trí có thể cắm kim, lỗ thông mạnh hơn và hạn chế được rỉ máu và tràn máu ra ngoài lòng mạch. AVG có thể sử dụng sớm hơn AVF, nhìn chung khoảng 1 – 3 tuần.

Hình 1: AVF (cầu tay) và AVG (cầu tay nhân tạo)

AVF duy trì chức năng tốt là đường vào mạch máu ưu tiên so với AVG do nguy cơ nhiễm trùng thấp hơn, tốc độ máu cao hơn và tỷ lệ sống của bệnh nhân tốt hơn. Tuy nhiên, AVF có nhiều vấn đề, một vấn đề nhược điểm quan trọng là tốc độ trưởng thành kém do người có các mạch máu không phù hợp, gồm cả những bệnh nhân cao tuổi. AVG có thể là lựa chọn phù hợp ban đầu ở những bệnh nhan đó mà không có những mạch máu lớn hoặc mạch máu giãn nở kém. Để sử dụng lâu dài, một số tĩnh mạch giãn nở gắn với một AVG có thể xảy ra, và thỉnh thoảng một đoạn tĩnh mạch lớn hơn mới có thể nối trực tiếp với động mạch, chuyển AVG thành AVF.
Tăng sinh nội mạc: Về mặt cơ chế, AVG ít được ưa dùng hơn AVF do AVG có nguy cơ cao tăng sinh nội mạc. Hầu hết nó xảy ra ở đoạn tĩnh mạch xuôi dòng từ tĩnh mạch liền kề AVG. Tăng sinh gây tắc nòng ống của tĩnh mạch xuôi dòng, dẫn đến tốc độ máu trong AVG thấp và chảy máu kéo dài sau khi đã rút kim chạy thận nhân tạo (do tăng áp lực trong AVG). Tiếp theo, nó có thể gây ra huyết khối. Nguyên nhân dẫn đến tăng sinh nội mạc ở tĩnh mạch xuôi dòng AVG được cho là những bất ổn của dòng xuôi đến tĩnh mạch liền kề graft, và sự không phù hợp giữa một graft cứng và một tĩnh mạch mềm mại. Sự tiếp xúc thường xuyên của đoạn tĩnh mạch tổn thương này làm cho máu đi ra quả lọc thúc đẩy nhanh quá trình này, dù hẹp có thể tiến triển ở tĩnh mạch xuôi dòng ngay cả khi graft không được sử dụng.

duong-vao-mạch-mauduong-vao-mach-mau
Mặc dù AVG là đường vào mạch máu không được ưa dùng khi so sánh với AVF, nó vẫn được dùng nhiều hơn catheter tĩnh mạch trung tâm. Bệnh nhân có AVG hoặc AVF ít bị nhiễm trùng, tỷ lệ mắc thấp hơn, và tỷ lệ sống cao hơn bệnh nhân có catheter tĩnh mạch. Gần đây, một số kết quả kém hơn với catheter tĩnh mạch trung tâm đã được chỉ ra do xu hướng lựa chọn (catheter tĩnh mạch trung tâm thường được sử dụng ở bệnh nhân yếu hơn), nguy cơ nhiễm trùng cho bệnh nhân, đặc biệt là người cao tuổi, đã cho thấy là thấp (Murea, 2014). Do đó, các vấn đề lâm sàng được thảo luận kỹ càng hơn ở chương sau, catheter tĩnh mạch lâu dài vẫn còn hữu ích để làm đường vào mạch máu.

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*