Đại cương và các loại catheter trong thận nhân tạo

Bệnh nhân bắt đầu được chạy thận nhân tạo bằng catheter tĩnh mạch không giống như sử dụng đường vào mạch máu động – tĩnh mạch. Cathter thường xuyên nhiễm trùng hơn, chúng gây một mức độ cao hơn của các marker gây viêm như protein C phản ứng, bệnh nhân tử vong nhiều hơn. Không có sự rõ ràng nếu các mối liên quan các nguy cơ đó phản ánh sự khác biệt ở cộng đồng bệnh nhân đặt catheter, hoặc nếu chúng hoàn toàn là do catheter. Có lẽ toàn bộ ba vấn đề là quan trọng. Tỷ lệ sống của catheter là khoảng 60% sau 6 tháng và 40% sau một năm. Tốc độ máu không phù hợp chảy qua catheter là một vấn đề đáng kể. Bình thường là trên 400 ml/phút (thường đạt 350 mL/phút) hiếm khi làm được, tốc độ máu bình thường chỉ ở mức dưới 300 mL/phút. Hạn chế của sử dụng catheter tĩnh mạch ở bệnh nhân lớn hơn và hậu quả là tỷ lệ giảm ure (URR) thấp hơn và độ thanh thải ure (Kt/V) thấp hơn.

Xem danh sách bài viết của chương 8 – 9 tại đây

Xem mục lục sổ tay thận nhân tạo tại đây

Ở trường hợp mạn, catheter tĩnh mạch được sử dụng như một đường vào mạch máu giai đoạn dài cho những bệnh nhân mà đường vào AV không thể làm được. Những bệnh nhân đó gồm trẻ em, một số bênh nhân đái tháo đường, bệnh nhân có bệnh béo phì, và bệnh nhân đã làm đường vào mạch máu AV quá nhiều lần mà không còn vị trí làm đường vào mạch máu AV. Chỉ định thêm bao gồm những bệnh nhân có bệnh cơ tim không thể có huyết áp thích hợp hoặc tốc độ máu thích hợp. Trong khi đó, catheter bắt đầu được ưa thích nhiều hơn cho chạy thận nhân tạo, có những kinh nghiệm tốt gần đây với lọc máu ban đêm và lọc máu hàng ngày sử dụng AVF hoặc graft. Có những thảo luận mới về khả năng chấp nhận catheter tĩnh mạch cho bệnh nhân chạy thận chu kỳ ở những bệnh nhân cao tuổi (trên 75 tuổi), đặc biệt là bệnh nhân có rất nhiều bệnh phối hợp và tuổi thọ còn lại ít (Drew và Lok, 2014). Tỷ lệ nhiễm trùng catheter tĩnh mạch ở người cao tuổi là thấp, bằng 1/3 so với những bệnh nhân trẻ tuổi hơn (Murea, 2014). Tuân thủ quy trình rửa tay và chăm sóc catheter được đề nghị bởi trung tâm kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ (CDC) đưa ra những kết quả khả quan giảm nhiễm trùng catheter (Patel, 2013).

CÁC LOẠI CATHETER VÀ THIẾT KẾ.

A. Có cuff và không có cuff

Sử dụng catheter không có cuff cho giai đoạn thời gian ngắn vài tuần có hậu quả tỷ lệ nhiễm trùng cao và không được khuyến cáo. Một vòng cuff gắn vào catheter sẽ giảm được nhiễm trùng và tuột catheter và sử dụng trong thời gian dài được tiên đoán, hoặc khi được tiên lượng rằng bệnh nhân xuất viện khi vẫn còn catheter được đặt.

catheter

Catheter không cuff

 catheter

Catheter có cuff

B. Thiết kế của catheter.

Catheter hai nòng được gọi là cấu hình “double D” hoặc catheter bên bên. Catheter đồng trục hiện nay ít được sử dụng. Thiết kế catheter bên bên cho phép vị trí trong lòng tĩnh mạch được chia thành hai phần rõ ràng ở các điểm tận cùng. Kết quả này trong sự mềm mại, đầu catheter uốn dễ hơn, khoảng cách đầu vào và đầu ra lớn hơn và có lễ tốc độ tái tuần hoàn thấp hơn. Cuff của hệ thống catheter Tesio (sử dụng ban đầu cho bệnh nhân chạy thận mạn), bao gồm hai ống thông hoàn toàn riêng biệt, mỗi phần được làm từ chất liệu silicone mềm, một cho đường vào, một cho đường ra.

C. Tẩm thuốc chống nhiễm trùng

Một số loại catheter lọc máu hoặc các cuff của nó được tẩm thuốc chống nhiễm trùng hoặc phủ bạc để ức chế sự phát triển của vi khuẩn. Không có nghiên cứu nào chứng minh cải thiện được kết quả với các loại catheter đó.

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*