Kỹ thuật đặt catheter trong chạy thận nhân tạo

Kỹ thuật đặt catheter trong thận nhân tạo với cả loại catheter có cuff và không có cuff được trình bầy trong bài này với những chú ý sơ lược. Các bước thực hiện kỹ thuật đặt catheter sẽ thay đổi với các loại catheter khác nhau của từng nhà sản xuất, vị trí cuff …

Xem danh sách bài viết của chương 8 tại đây

Xem mục lục sổ tay thận nhân tạo tại đây

A. Chuẩn bị vị trí

Catheter được đặt sử dụng kỹ thuật vô trùng, người thực hiện đeo găng và áo vô trùng để đề phòng tối đa sự nhiễm trùng. Trước đó cần vệ sinh, điều này có ích để lựa chọn sử dụng siêu âm hỗ trợ để chắc chắn bệnh nhân có tĩnh mạch ở vị trí được lựa chọn. Vị trí đặt và khu vực xung quanh được làm sạch với dung dịch phẫu thuật vô trùng và phủ săng (bao gồm cả vai và thành ngực nếu đặt catheter có cuff). Đầu dò siêu âm nên được bọc qua một màng bọc vô trùng.

B. Phương pháp đặt tĩnh mạch cảnh trong

Đầu dò siêu âm có thể được đặt song song theo chiều mạch máu và kim đặt ngay cạnh đến cuối hoặc theo trục của đầu dò. Đầu dò có thể đặt vuông góc với trục mạch máu. Cách này cho chúng ta thấy rõ tĩnh mạch hơn nhưng hạn chế việc quan sát được kim. Tĩnh mạch có thể đàn hồi với việc ấn đầu dò, ngược lại động mạch thì không. Thêm nữa, đường kính tĩnh mạch tăng với nghiệm pháp Valsalva và có thể dễ dàng quan sát với siêu âm. Đối với đặt vào tĩnh mạch cảnh trong, đầu dò siêu âm đặt song song cho thấy hơn hẳn với tĩnh mạch dưới đòn. Ở góc giữa bó ức và bó đòn của cơ ức đòn chũm. Điều quan trọng là tránh đặt catheter xuyên qua cơ, nó sẽ gây sự mất thoải mái cho bệnh nhân và suy chức năng catheter khi quay cổ.

  1. Bắt đầu đặt dây dẫn qua kim 21G.

Vị trí đặt được tiêm thuốc gây tê tại chỗ. Sử dụng đầu dò siêu âm, một kim nhỏ có kích thước 21G được gắn một syringe đặt vào tĩnh mạch. Với kim nhỏ có thể hạn chế được biến chứng nếu đặt nhầm vào động mạch cảnh khi so sánh với kim 18G, chúng được đặt trên một khay vô trùng dành cho đặt catheter chạy thận. Dưới sự quan sát trực tiếp, tĩnh mạch được nhìn để đẩy nhẹ nhàng trước khi đẩy kim qua thành trước của tĩnh mạch. Bỏ bơm tiêm, đưa đường dẫn 0.018 ince qua kim. Đường dẫn đã được cải tiến. Vị trí của đường dẫn có thể được xác nhận bằng sử dụng huỳnh quang.

kỹ thuật đặt catheter

Đặt dây dẫn và nong theo đường dẫn (nguồn youtube)

  1. Đặt nong theo đường dẫn

Kim sau được rút và một nong  đồng trục 5- French được luồn theo đường dẫn. Đường dẫn và nong 3-French bên trong được loại bỏ, để lại nong 5 – French ở vị trí đã được nong. Các khóa được kẹp để ngăn chặn khả năng khí xâm nhập gây tắc khí.

  1. Đặt catheter không có cuff

Bước tiếp theo phụ thuộc vào loại catheter được đặt là có cuff hay không có cuff. Để đặt catheter tạm thời, một đường dẫn chuẩn 0.035 inc đặt trong tĩnh mạch và sau đó sử dụng nong 5 – French, rút đường dẫn. Theo từng bước, nong được tăng kích cỡ đi qua dây dẫn để nới rộng các mô và thành tĩnh mạch, các nong nên di chuyển nhẹ  nhàng theo dây dẫn. Các loại nong không được ấn mạch, nó có thể gây đứt dây dẫn, thủng thành tĩnh mạch hoặc thủng trung thất. Người ta không cần ấn hết chiều dài của nong mà chỉ cần nong rộng từ da đến thành tĩnh mạch. Nếu nghi ngờ vị trí nong hoặc nếu có sự do dự hoặc khó tiến hành nong, có thể cần nong huỳnh quang để xác định lại vị trí. Cuối cùng nong được thay thế bằng catheter tạm thời, theo dây dẫn để vào đúng vị trí. Sau khi đã đặt được catheter vào đúng vị trí, chụp thành ngục để xác định vị trí catheter và kiểm tra các biến chứng, nếu không có sẵn huỳnh quang trên catheter. Nếu bệnh nhân phải chạy thận nhân tạo lâu dài, catheter không cuff, khi được đặt ở tĩnh mạch cảnh trong, có thể chuyển thành catheter có cuff nếu không có bằng chứng của nhiễm trùng vị trí đặt catheter.

  1. Đặt catheter tĩnh mạch có cuff

a. Tạo vị trí ra trên da và đường hầm.

Để đặt catheter đường hầm có cuff, một đường mổ được rạch tự vị trí nong da 5 – French được mở rộng ra hai bên. Một dụng cụ bóc tách mô dưới da cùn bóc tách mô dưới ra, tạo ra một đường hầm dưới da có thể uốn cong được catheter. Có thể cần bóc tác thêm để nới rộng đường hầm. Catheter được xác định chiều dài, thực hiện bằng cách đo từ khoang liên sườn thứ 4 đến vị trí đặt catheter hoặc có thể xác định qua dây đẫn để đo chiều dài từ vị trí đặt đến nhĩ phải. Sử dụng các phép đo này, chiều dài của đường hầm có thể được đo đến cuff trong đường hầm khoảng 1 – 2 cm tính từ vị trí đặt.

kỹ thuật đặt catheterkỹ thuật đặt catheter

Tạo vị trí ra trên da ở thành ngực và đường hầm (nguồn youtube)

  1. Đặt catheter qua vị trí ra trên da (bước này có thể thay đổi tùy từng loại catheter)

Vị trí ra trên da được xác định, vùng xâm nhập được gây tê tại chỗ, một lỗ cắm được làm xuyên da sử dụng dao cỡ 11 rạch song song bề mặt da. Dao được hạ đến điểm rộng nhất của lưỡi dao; đường rạch này đủ cho hầu hết các loại catheter hai nòng. Một kim dài được sử dụng để tạo đường hầm với gây tê tại chỗ từ vị trí ra trên da đến vị trí đặt catheter. Catheter được nối với đầu cuối của thiết bị tạo đường hầm, và thiết bị tạo đường hầm kéo từ vị trí ra trên da qua dưới da đến vị trí đặt. Cuff sẽ được kéo vào trong đường hầm, sau đó thiết bị tạo đường hầm sẽ được bỏ ra.

kỹ thuật đặt catheter

  1. Nong các mô sâu và tĩnh mạch.

Dây dẫn bây giờ đi qua vị trí nong  vào trong tĩnh mạch chủ dưới. Đặt dây dẫn trong tĩnh mạch chủ dưới giảm khả năng gây rối loạn nhịp tim. Dây dẫn được sử dụng hầu hết các loại catheter. Nong 5 – French được rút, và theo từng bước, nong được tăng kích cỡ để nong rộng mô mềm và thành tĩnh mạch. Nong di chuyển nhẹ nhàng trên dây dẫn. Nó có thể làm rách mô, thành tĩnh mạch và trung thất. Trong bối cảnh này, người ta không cần thiết phải đẩy hết chiều dài của nong mà chỉ cần nong rộng đường từ da đến thành trước của tĩnh mạch. Nếu nghi ngờ hoặc do dự hoặc khó nong, có thể cần sử dụng huỳnh quang để xác định lại vị trí.

  1. Hoàn thành việc đặt catheter

Sau khi đã kết thúc việc nong, nong đã được đặt với loại có thể lột vỏ. Một người chèn vào vỏ. Sức kháng có thể cảm nhận khi đi qua mô mềm và vị trí đi vào nòng tĩnh mạch. Nong và vỏ sau đó được rút bỏ và catheter được đẩy vào qua nong dẫn và đi đến vị trí cuối cùng. Người ta có thể cần vặn catheter để nó không bị xoắn. Sự khéo léo này giảm khả năng tắc khí và có thể cả trên tĩnh mạch nhỏ hơn và ít chảy máu hơn.

Nếu sử dụng nong lột vỏ, vỏ được cải tiến và rút nong trong khi bóp vỏ, bỏ dây dẫn tại chỗ để chắc chắn đường vào sẵn có nếu có một số khó khăn. Vỏ được tách bằng hai ngón tay của cùng một người bóp vỏ. Điều này tránh được chảy máu và xâm nhập khí trong khi lấy hết chiều dài của vỏ và đưa catheter vào. Khi nong và dây dẫn được rút, catheter đã được đưa vào và vỏ được mở như là cách tránh sự xoắn vặn catheter. Catheter được chui qua vỏ. Catheter được đẩy sâu vào trong vỏ, và vỏ được bóc theo hướng ngược lại về phía da. Ngay sau khi catheter được đưa sâu tối đa, vỏ được đưa ra ngoài và bóc hoàn toàn bên ngoài tĩnh mạch. Điều này tránh được vỏ có thể gây rách rộng hơn thành tĩnh mạch.

kỹ thuật đặt catheter

Nguồn youtube

  1. Thiết lập và đảm bảo cuff của catheter.

Khi vỏ được loại bỏ hoàn toàn. Catheter được đẩy vào đường hầm đến khi cuff cách vị trí ra 1 – 2 cm (hoặc cuff ở vị trí giữa catheter, từ từng loại). Catheter bây giờ được kiểm tra chắc chắn đã đảm bảo đủ chức năng. Dùng 1 syringe 10 mL kéo nhanh máu ra.

Vị trí đặt catheter được khâu sau khi đã chắc chắn tốc độ máu thích hợp. Không nên khâu lại vị trí đầu ra vì chúng có thể tạo thành một ổ nhiễm trùng. Chỉ khâu được đính vào các tai giữ catheter. Sử dụng các nắp để giữ catheter làm tăng độ thoải mái cho bệnh nhân và giảm được biến chứng hoạt tử da. Cuff ở dưới da được sử dụng để giữ catheter ở đúng vị trí vào nó sẽ dính vào mô da. Bôi dầu kháng sinh vào các vị trí rạch da và cắm kim, đậy gạc lên toàn bộ bề mặt.

CHÚ Ý: Với mỗi loại catheter khác nhau, các bước thực hiện có thể khác nhau, tùy từng hướng dẫn của nhà sản xuất.

C. Tĩnh mạch đùi

Thường dùng loại catheter không có cuff, nhưng trước đây, catheter có cuff thường được đặt. Bệnh nhân được nằm trên giường phẳng với đầu gối hơn co và cẳng chân dạng và xoay ra ngoài. Vùng háng được vệ sinh, làm sạch và bôi kháng sinh và sát trùng. Tĩnh mạch đùi nên được đặt cách nếp lằn bẹn 2 – 4 cm và sử dụng 1 kim 21G đã cho thuốc gây tê. Trước đây thường dùng siêu âm để tăng độ thành công của kỹ thuật. Một lượng thuốc gây tê được bơm xuang quanh tĩnh mạch đề phòng co thắt tĩnh mạch. Khi đã xác định được tĩnh mạch, dùng một gạc nhỏ để ấn vào vị trí rút kim, thay bằng một kim 18G. Đường dẫn được đưa qua kim vào trong nòng tĩnh mạch. Điều quan trọng là đường dẫn đễ dàng di chuyển sau khi đã được đặt đầy đủ. Nếu đường dẫn cảm thấy chặt, có khả năng chỉ đặt vào một tĩnh mạch nhánh của hệ tĩnh mạch đùi. Trong trường hợp này không nên đặt catheter và đường dẫn nên được rút ra, thay đổi hướng kim để tìm kiếm được tĩnh mạch đùi (thỉnh thoảng có thể cần đâm kim sau hơn song song với hướng của tĩnh mạch) và đường dẫn được đặt lại. Sau khi đã đạt được sự di chuyển nhẹ nhàng của đường dẫn, kim được rút và nong được đặt. Các bước chính đặt catheter tĩnh mạch đùi tương tự như đặt catheter tĩnh mạch cảnh trong như đã được mô tả ở trên.

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*