Dịch thay thế trong lọc huyết tương hoặc thay huyết tương

Lựa chọn loại và số lượng dịch thay thế là một cân nhắc quan trong trong kê đơn lọc huyết tương. Sự đa dạng của bệnh và các điều kiện bệnh nhân tạo nên các hình thái rắc rối đề nghị cho các loại dịch thay thế khác nhau là khó. Tuy nhiên, các hướng dẫn là hữu ích, và chúng co thể  thay đổi bởi xuất hiện các điều kiện đặc biệt. Ở hầu hết quy trình lọc huyết tương, thay thế bằng dịch keo là cần thiết để duy trì huyết động ổn định. Trong thực hành, điều này hạn chế với albumin, nhìn chúng là ở dạng dịch không đẳng trương 5%, hoặc huyết thanh ở dạng FFP. Ưu điểm và nhược điểm của mỗi loại được liệt kê trong bảng 18.5.

Xem danh sách bài viết của chương 18 tại đây

Xem mục lục sổ tay thận nhân tạo tại đây

A. Huyết tương tươi đông lạnh (FFP)

FFP có ưu điểm là thành phần tương tự như dịch được lọc khỏi bệnh nhân, nhưng có liên quan đến nhiều tacs dụng phụ như các phản ứng dị ứng. Mề đay và phát ban, mà có thể nặng, xuất hiện thường xuyên khi sử dụng FFP. Hiếm khi, phản ứng phản vệ gây ra dạng phù phổi không do tim nguyên nhân bởi tăng vận chuyển leukoagglutinin (kháng thể kết tụ bạch cầu). Nguyên nhân khác của phản vệ là truyền FFP chứa IgA vào bệnh nhân với lựa chọn thiếu IgA. Do FFP có thể chứa số lượng đáng kể kháng thể kết tụ antiA và antiB, đánh giá nhóm máu ABO so sánh người hiến và người nhận là cần thiết. Như đã nói ở trên, FFP chứa citrate, và sử dụng FFP làm tăng nguy cơ của phản ứng hạ calci ion qua citrate. Thêm nữa, có một tỷ lệ nhỏ truyền virus viêm gan B qua FFP (0.0005% mỗi đơn vị), virus viêm gan C (0.03% mỗi đơn vị), và HIV (0.0004% mỗi đơn vị). Dù nguy cơ lây nhiễm   đó hiện nay nhỏ hơn nhiều với đánh giá trước và sau hiến, vẫn cần phải nhớ rằng với mỗi điều trị lọc huyết tương khi mà 3L huyết tương được thay thế với FFP, 3L FFP thay thế đó được tạo ra bằng 10 – 15 đơn vị huyết tương đến từ một số lượng bằng của người hiến. Huyết tương đã được rửa là sẵn có từ một số nhà sản xuất.

Sử dụng FFP như một dịch thay thế tạo nên đo của hiệu quả của lọc huyết tương khó hơn ở phần lớn bệnh nhân (như, người ta không thể đo IgG và các chất miễn dịch khác tiếp theo một cách đơn giản. Ngoài ra, FFP có thể bổ xung một số yếu tố bị loại bỏ trong quá trình lọc huyết tương mà có thể có tác dụng đặc biệt trong quá trình viêm.

Hiện tại, các chỉ định đặc hiệu đối với thay thế một số hoặc toàn bộ huyết tương bị loại bỏ với FFP trong quá trình tthay huyết tương là (a) hội chứng huyết khối xuất huyết giảm tiểu cầu – tan máu tăng ure máu (TTP/HUS), (b) khiếm khuyết trong đông máu trước đây và/hoặc mức độ fibrinogen huyết thanh trước điều trị thấp (<125 mg/dL), và (c) các bệnh nhân có nguy cơ chảy máu; ví dụ, các bệnh nhân trước hoặc sau phẫu thuật. Với mối quan tâm đến TTP/HUS, có một giải thích cho sử dụng FFP như một dịch thay thế duy nhất bởi truyền FFP bằng chính nó có thể điều trị và bởi trong sự xuất hiện của giảm tiểu cầu nguy cơ chảy máu như một hậu quả của sự rối loạn nhỏ trong các yếu tố chống đông có thể cao hơn.

Nhìn chung, bởi lọc huyết tương làm cạn kiệt các yếu tố đông máu, thay thế bằng albumin và các tinh thể đơn độc có thể gây mất các yếu tố đó và đặt bệnh nhân vào tăng nguy cơ chảy máu. Điều này có vẻ như không xảy ra sau một hoặc hai lần thay huyết tương, đặc biệt nếu họ được tiên hành nhiều hơn khoảng cách một ngày, bởi nửa đời của hầu hết các yếu tố đông máu xấp xỉ 24 – 36 giờ.

B. Albumin

Do cac mối quan tâm ở trên với sử dụng FFP, chúng tôi khuyến cáo albumin như một dịch thay thế đầu tiên. Dịch 5% albumin ở nồng độ 5g/dL (50 g/L) trong nước muối sinh lý 130 – 160 mmol mỗi lít có thể thay thế trong một thể tích bằng với thể tích huyết tương đã loại bỏ. Với thiết bị hiện đại, điều này có thể làm đồng thời và cùng tốc độ với thể tích loại bỏ. Tuy nhiên, do một tỷ lệ đáng kể của albumin đã được truyền sớm trong quy trình bị thay thế trong thời gian lọc huyết tương, một tiếp cận kinh tế hơn (khi thể tích thay thế bằng với một thể tích huyết tương và trong sự thiếu vắng của giảm albumin máu) được thay thế ban đầu 20 – 30% thể tích huyết tương loại bỏ với crystalloid (tinh thể), như là nước muối sinh lý 0.9% và sau đó thay thế cân bằng với dịch albumin 5% ở trên. Phương pháp này tạo nên nồng độ albumin trong khoang mạch máu cuối cùng xấp xỉ 35 g/L, đủ để duy trì áp lực thẩm thấu và tránh tụt huyết áp. Tiếp cận này không sử dụng ở các bệnh nhân tăng độ nhớt máu, các bệnh nhân có bệnh thần kinh, và các bệnh nhân với nguyên nhân tụt huyết áp khác.

Albumin huyết thanh người tinh khiết (HSA) không lây truyền bệnh virus do xử lý nóng dài trong quá trình xử lý và trở thành một dịch thay thế yêu thích trong TPE. Chúng có một sự ghi nhận an toàn lớn. Tỷ lệ phản ứng bất lợi của bất kỳ loại nào đã được ước tính là 1 trong 6.600 lần truyền. Mức độ nặng, khả năng đe dọa chức năng sống xảy ra xấp xỉ 1 trong 30.000 lần truyền. Khi chuẩn bị dịch albumin 5% từ dịch có nồng độ co đặc hơn, nước muối sinh lý 0.9% phải được sử dụng để pha loãng; sử dụng nước như một dung môi pha loãng gây ra hạ natri máu nặng và tan máu (Steinmuller, 1998).

Số lượng dịch thay thế phụ thuộc trên tình trạng thể tích dịch của bệnh nhân. Thể tích dịch thay thế có thể được điều chỉnh, thủ công hay tự động, từ 100% thể tihs dịch loại bỏ đến thấp hơn 85%. Sử dụng dịch thay thế thấp hơn không được khuyến cáo, khi điều này tương phản với thể tích trong lòng mạch và gây ra bất ổn huyết động.

Bảng 18.5: Lựa chọn dịch thay thế
Dịch Ưu điểm Nhược điểm
Albumin Không có nguy cơ của viêm gan

Lưu giữ ở nhiệt độ phòng

Phản ứng dị ứng là hiếm

Không quan ngại về nhóm máu ABO

Làm mất đi các chất trung gian viêm

Đắt tiền

Không có yếu tố đông máu

Không có cách yếu tố miễn dịch

FFP Có yếu tố đông máu

Có các chất miễn dịch

Các yếu tố “có lợi”

Nguy cơ truyền viêm gan, HIV

Phản ứng dị ứng

Phải rã đông

Phải so sánh nhóm máu ABO

Quá tải citrate

HIV: virus suy giảm miễn dịch người

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*