Nguyên lý kỹ thuật của lọc huyết tương hoặc thay huyết tương

Thay huyết tương (TPE) có thể được tiến hành sử dụng phân tách tế bào máu ly tâm hoặc màng phân tách huyết tương (MPS). Thiết bị ly tâm được sử dụng phổ biến cho ngân hàng máu khi chúng có khả năng lựa chọn tế bào để loại bỏ ra ngoài huyết tương. MPS sử dụng thiết bị lọc sợi tính thấm cao, tương tự như quả lọc nhưng có kích thươc lỗ lọc lớn và thích hợ với thiết bị lọc máu thay đổi. Ưu điểm và nhược điểm của mỗi kỹ thuật được tổng hợp trong bảng 18.4.

Bảng 18.4: So sánh lọc huyết tương màng phân tách huyết tương và lý tâm
  Ưu điểm Nhược điểm
Phân tách huyết tương màng Thiết bị nhanh và nhỏ gọn hơn

Không yêu cầu citrate

Có thể điều chỉnh cho tinh lọc dòng

Loại nỏ các chất hạn chế bởi hệ số lọc của màng

Giảm hiệu quả trong hội chứng tăng độ nhợt và cryoglobullinemia

Không thể tiến hành lọc tế bào

Cần tốc độ máu cao, đường vào mạch máu trung tâm

Yêu cầu chống đông heparin, hạn chế sử dụng trong rối loạn chảy máu

Lọc ly tâm Có khả năng tiến hành lọc tế bào

Không yêu cầu heparin

Hiệu quả hơn loại bỏ toàn bộ các thành phần huyết tương

Thiết bị lớn và nặng hơn

Đòi hỏi chống đông citrate

Mất tiểu cầu

A. Lọc huyết tương ly tâm.

Trong quá trình ly tâm, tế bào máu được phân tách bởi trọng lực, dựa trên mật độ khác nhau của các thành phần máu. Có hai phương pháp ly tâm được sử dụng để phân tách tế bào máu: thiết bị dòng ngắt quãng (hoặc dòng không liên tục) và thiết bị dòng liên tục. Tế bào hồng cầu chuyển ra bên ngoài của thùng ly tâm, trong khi huyết tuwonng, thành phần nhẹ nhất, vẫn còn ở bên trong. Tiểu cầu và bạch cầu nằm ở lớp giữa hồng cầu và huyết tương. Bất lỳ trong các thành phần đó có thể được lấy, loại bỏ, hoặc truyền trở lại (hình 18.1).

Thay huyết tương ly tâm

Hình 18.1: Trong lọc ly tâm, huyết tương và các tế bào được ohaan tách thành nhiều lớp phụ thuộc vào trọng lực. Mỗi lớp có thể được loại bỏ, phụ thuộc trên quy trình và truyền dịch/hoặc tế bào thay thế. (Courtesy of Dobri Kiprov, MD. Reprinted from Linz W, et al. Principles of Apheresis Technology. 5th ed. American Society for Apheresis; 2014. www.apheresis.org.)

B. Phân tách huyết tương màng (MPS)

Màng phân tac huyết tương  được thiết kế từ kỹ thuật dử dụng trong lọc máu. Màng lọc sợi rỗng cho MPS trông rất giống với màng lọc máu. Người ta dễ dàng giả định rằng nó có thể thay thế đơn giản thiết bị lọc chạy thận với màng MPS và tiến hành quá trình chạy thận nhân tạo mà không cần dịch lọc. Tuy nhiên, loại bỏ huyết tương có sự khác biệt về sinh lý khác loại bỏ siêu lọc. Khi nước được loại bỏ từ khoang trong mạch máu, dịch ngoài mạch máu có thể thấm vào trong bù lại lượng nước đã loại bỏ. Khi huyết tương được lọc khỏi khoang mạch máu, tốc độ tái đổ đầy của khoang mạch máu bị giảm. Do đó, có nguy cơ biến chứng tim mạch cao hơn trong quá trình thay thế huyết tương. Thiết bị được thiết kế đặc biệt cho màng phân tách phải được sử dụng để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân. Màng lọc với ngưỡng trọng lượng phân tử khoảng 3 triệu Da được sử ụng, đủ để cho phép các phước hợp miễn dịch đi qua (MV ~ 1 triệu Da). Màng lọc MPS có thể được sản xuất cả dạng sợi và dạng tấm. Một ví dụ về màng phân tách sợi rỗng là Plassma-Flo được sản xuất bởi Asahi (Apheresis Technologies, Palm Harbor, FL). Màng lọc cho phép chỉ huyết tương đi qua, lôc lọc đủ nhỏ để giữ lại các dạng khác lownshown của máu. Màng lọc có một hệ số lọc (tỷ lệ của nồng độ lọc với mau) giữa 0.8 và 0.9 cho albumin, IgG, IgA, IgM, C3, C4, fibrinogen, cholesterol, và triglyceride (ở tốc độ máu 100 mL và TMP 40 mmHg (hình 18.2). Mốt số nhà sản xuất giới thiệu thiết bị CRRT thay đổi hay thiết bị dành riêng cho màng lọc huyết tương.

Màng phân tách huyết tương phải được tiến hành ở TMP thấp (< 500 mmHg) để tránh tan máu. Với thiết bị lọc sợi rỗng, tốc độ máu nên vượt quá 50 ml/phút để tránh đông máu. Tốc độ máu (Qb) lý tưởng là 100 – 150 ml/phút. Khi tốc độ máu là 100 mL/phút, tốc độ loại bỏ huyết tương là 30 – 50 mL/phút. Do đó, thời gian trung bình cần tiến hành một màng lọc thống thường (Ve = 2800 mL) là < 2h (40 mL/phút x 60 phút = 2400 mL/h).

thay huyết tương màng

Hình 18.2: Quá trình màng phân tách huyết tương, tế bào máu không được phép qua màng lọc, trong khi các thành phần huyết tương qua được. (Courtesy of Dobri Kiprov, MD. Reprinted from Linz W, et al. Principles of Apheresis Technology. 5th ed. American Society for Apheresis; 2014. www.apheresis.org.)

C. So sánh thiết bị màng và lý tâm (bảng 18.4)

Các thiết bị phân tách tế bào máu ly tâm là ưu tiên dđiều trị lọc huyết tương ở Hoa Kỳ. Chúng có khả năng tiến hành lọc tế bào (lọc bạch cầu, lọc hồng cầu, và lọc tiểu cầu) ngoài lọc huyêt tương. Các thiết bị ly tâm hoạt động với tốc độ huyết tương và toàn bộ máu thấp hơn (Qb trong khoảng 40 – 50 ml/phút). Tốc độ máu đó có thể nhận được từ một tĩnh mạch ngoại vi lớn (tĩnh mạch ở khuỷu tay), loại bỏ các nguy cơ liên quan đến đường vào mạch máu ở nhiều trường hợp.

MPS nhanh hơn cho tiến hành lọc huyết tương. Tuy nhiên, nó không phù hợp cho điều trị các bệnh nhân với hội chứng độ nhớt do paraprotein máu (phổ biến nhất là Waldenström macroglobulinemia) hoặc các bệnh nhân với tăng cryoglobulin máu, do thiết bị sẵn có không đủ để loại bỏ các đại phân tử rất lớn. MPS bình thường tiến hành sử dụng heparin làm thuốc chống đông; khi điều trị các rối loạn chảy máu như TTP, heparin khioong nên được sử dụng, và phương pháp sử dụng thay thể được chỉ định là citrate.

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*