Lưu ý trong dùng thuốc điều trị rối loạn chuyển hóa chất khoáng xương

Các bạn thân mến, như trong bài tư vấn về điều trị rối loạn chuyển hóa chất khoáng và xương (hay còn gọi là cường cận giáp thứ phát do chạy thận). Tuy nhiên, mình thấy, trong cộng đồng bệnh nhân chạy thận thường hay truyền tai nhau về thuốc điều trị bệnh lý này. Việc điều trị bệnh này khá phức tạp, đặc biệt khi phối hợp thuốc với nhau, vì chúng đôi khi có tác dụng ngược nhau, làm ảnh hưởng đến kết quả điều trị. Bài này, mình xin phép đề cập đến các lưu ý khi dùng thuốc.

Như các bạn đã biết, bệnh nhân suy thận thường thiếu Vitamin D hoạt động, hạ calci máu, tăng phosphate máu, tăng PTH. Hậu quả của rối loạn này là gây cường cận giáp, lắng đọng chất khoáng ở tim và mô, gây tăng huyết áp, suy tim, ngứa, tổn thương xương… Dần dần, cơ thể sẽ bị phá hủy trầm trọng.

Bệnh thường diễn âm thầm, điều quan trọng là cần phát hiện sớm bệnh và kiểm soát nó. Theo hướng dẫn của Tổ chức Thận học Quốc tế (INS-KDIGO về CKD-MBD:2017) thì người bệnh được làm xét nghiệm từ bệnh thận mạn giai đoạn 3a. Khi các bạn ở giai đoạn chạy thận mới nghĩ đến nó thì có vẻ đã muộn. Nhưng dù sao, muộn còn hơn không, chúng ta vẫn phải khống chế bệnh để ngăn không cho bệnh phát triển.

CÁC XÉT NGHIỆM CẦN LÀM ĐỂ PHÁT HIỆN BỆNH LÀ:

  • Canxi máu
  • Phosphate máu
  • PTH máu
  • Vitamin D

 

Tùy vào mức độ nặng và thuốc điều trị của bệnh mà bác sỹ sẽ cho các bạn khoảng cách thời gian khác nhau để theo dõi, vì vậy, có người xét nghiệm nhiều hơn, có người xét nghiệm ít hơn.

CÁC THUỐC ĐIỀU TRỊ GỒM:

Mục tiêu điều trị là khống chế tăng phospho máu, cố gắng đưa nó về khoảng bình thường, đưa calci máu về khoảng bình thường, và duy trì PTH trong khoảng cho phép là 150 đến 300 pg/ml. Chính vì vậy, tùy vào xét nghiệm mà bác sỹ sẽ cho các bạn các loại thuốc khác nhau.

Có 4 loại thuốc chính điều tri gồm:

  • Hai nhóm thuốc gắn phosphate: các thuốc này làm việc bằng cách gắn với phosphate chứa trong thức ăn, ngăn cản hấp  thu vào máu vì vậy phải uống trong lúc ăn. Trong nhóm này gồm có:
    • loại thuốc gắn phosphate chứa can xi như calci carbonate, calci acetate…,
    • thuốc gắn phosphate không chứa calci như sevelamer, lanthanum.
  • Hai nhóm thuốc ức chế tuyến cận giáp gồm
    • vitamin D hoạt động
    • calcimimetric (cinacalcet)

thuoc-sevlacinacalcet

 

Vấn đề là khi nào cần dùng thuốc gắn phosphate chứa calci, khi nào thì dùng thuốc gắn phosphate không chứa calci?; Tương tự, khi nào thì dùng vitamin D hoạt động, và khi nào thì dùng cinacalcet? Và khi nào thì phối hợp các thuốc với nhau?

Điều trị bệnh thường phải qua 4 giai đoạn, giai đoạn đầu là đánh giá mức độ và điều trị ban đầu, giai đoạn 3 xem xét có nên cho thêm vitamin D hoạt động hay cinacacet không; giai đoạn 4 là điều chỉnh liều và xem xét phối hợp cinacalcet và vitamin D hoạt động.

Bắt đầu từ giai đoạn 3, vấn đề trở nên phức tạp hơn rất nhiều vì tác dụng ngược chiều nhau của Vitamin D hoạt động và cinacalcet. Trong khi vitamin D hoạt động, một mặt ức chế tuyến cận giáp. Tuy nhiên, tác dụng ủa nó trên đường tiêu hóa lại làm làm tăng cường hấp thu phosphorus và can xi ruột, làm tăng calci và phosphat máu. Vì vậy, chỉ có thể sử dụng được ở những người mà phosphate đã được khống chế đầy đủ. Trong khi đó, cinacalcet lại làm hạ calci máu đôi khi gây tác dụng phụ nguy hiểm ở người có can xi máu thấp.

Theo khuyến cáo của KDIGO và KDOQI, trong điều trị, cần cố gắng hạn chế sử dụng hoặc giảm liều vitamin D hoạt động. Vì vậy, việc dùng thuốc nào, khi nào thì bạn cần có sự tư vấn kỹ càng của bác sỹ, không nên tự ý điều trị.

Bạn có thể liên hệ với tôi để khám bệnh rối loạn chuyển hóa chất khoáng và xương theo địa chỉ:

Bác sỹ Nguyễn Thanh Hùng

Khoa Thận tiết niệu, Bệnh viện đa khoa khu vực Phúc Yên

Phường Hùng Vương, Thành phố Phúc Yên, Tỉnh Vĩnh Phúc

Điện thoại: 0949.682.081

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*