Kiểm soát thai nghén ở phụ nữ lọc máu

Ở phụ nữ có bệnh thận giai đoạn cuối, khả năng sinh sản giảm nhưng khả năng có thai vẫn đủ cao mà cần phải đề phòng nếu không mong muốn và quản lý cẩn thận bởi một đội ngũ đa chuyên khoa nếu nó xảy đến. Trục dưới đồi – tuyến yên – buồng trứng bị gián đoạn, góp phần vào giảm khả năng sinh sản, mất ham muốn, và kinh nguyệt bất thường. Thanhhungdialysis.com giới thiệu loạt bài SẢN KHOA VÀ PHỤ KHOA Ở NGƯỜI BỆNH LỌC MÁU

Bài này thuộc CHƯƠNG 39 trong sổ tay thận nhân tạo

Xem danh sách các bài viết phần BỆNH LÝ TẠI ĐÂY

I. KIỂM SOÁT THAI NGHÉN

A. Chỉ định

Bốn mươi phần trăm phụ nữ dưới 55 tuổi điều trị lọc máu có kinh nguyệt, nhưng giai đoạn có thể không rụng trứng hoặc đặc tính bởi pha hoàng thể ngắn (Holley, 1997). Vô sinh là quy luật, với thai nghén trong khoảng 0.3 đến 1% mỗi năm ở phụ nữ tuổi 14 – 44. Có một vài đề nghị rằng sử dụng erythropoietin và tăng cường độ lọc máu làm tăng Kt/V mục tiêu có thể thay đổi các bất thường nội tiết và các yếu tố khác góp phần vào vô sinh ở bệnh nhân lọc máu và tần xuất của thai nghén có thể tăng. Vai trò cho tăng lọc máu trong tăng khả năng sinh sản được đề nghị bởi kinh nghiệm của chương trình lọc máu qua đêm ở Đại học Toronto, nơi mà, trung bình, phụ nữ nhận được 36 giờ lọc máu mỗi tuần (Nadeau-Fredette, 2013). Trong trương trình này, quan niệm bị xảy ra trong 15% phụ nữ trong độ tuổi sinh sản. Các bệnh nhân lọc máu điều trị phác đồ lọc máu chuẩn thỉnh thoảng xảy ra thụ thai, và khi có thai, quản lý bệnh nhân là vô cùng phức tạp. Kiểm soát sinh sản được khuyên cho phụ nữ mà không mong muốn có thai. Nó là khó ở phụ  nữ có nguy cơ thai nghén cao. Phụ nữ đã từng một lần có thai khi lọc máu có thể thụ thai lại. Phụ nữ đã từng có thai với chức năng thận không đủ trước khi bắt đầu lọc máu, và phụ nữ có kinh nguyệt đều đặn là các đối tượng tăng nguy cơ, nhưng các lần mang thai có thể xảy ra ở cả phụ nữ điều trị lọc máu nhiều năm sau vô kinh.

B. Các phương pháp ngừa thai

Màng tránh thai và bao cao su có thể được sử dụng như với những người có chức năng thận bình thương. Tỷ lệ có thai với các phương pháp rào cản khá cao 25 – 29% mỗi năm ở phụ nữ bình thường, nhưng có thể thấp hơn ở bệnh nhân lọc máu. Nhiều phụ nữ có thể lựa chọn các phương pháp hiệu quả và ít phức tạp hơn của tránh thai. Viên uống tránh thai có thể được sử dụng nhưng là chống chỉ định ở phụ nữ có tiền sử viêm tắc tĩnh mạch sâu hoặc tăng huyết áp nặng. Viên uống tránh thai estrogen liều thấp có thể được sử dụng ở các bệnh nhân lupus mà không có tiền sử huyết khối hoặc tăng huyết áp không được kiểm soát. Vòng tránh thai (IUD) chứa đồng hoặc levonorgesterol có thể được sử dụng ở phụ nữ đái tháo đường, đái tháo đường với bệnh thận, SLE, và các yếu tố nguy cơ tim mạch, và là phương pháp kiểm soát sinh sản tốt cho phụ nữ chạy thận nhân tạo và lọc màng bụng. Không có hướng dẫn từ U.S. Medical Eligibility Criteria for Contraceptive Use hoặc từ các nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên. Có một số quan ngại rằng IUDs có thể tăng nguy cơ viêm màng bụng ở phụ nữ lọc màng bụng, nhưng nguy cơ này không được nghiên cứu tốt. Điều này bị quan ngại ngoài thông tin trên tác dụng của estrogen trên các đường vào kín đáo. Cung cấp estrogen đem lại lợi ích về mặt lý thuyết của bảo vệ xương khỏi các tác dụng của hạ estrogen máu thấy ở bệnh nhân lọc máu.

Nhiều phụ nữ lọc máu có thời gian kinh nguyệt kéo dài không rụng trứng, liên quan với tác dụng không ngăn cản của estrogen trên nội mạc tử cung. Vòng estrogen – progesterol có thể làm giảm nguy cơ của ung thư nội mạc tử cung mà  liên quan với estrogen không ngăn cản. Điều trị vô sinh không được nỗ lực bởi có thai là nguy hiểm cho bà mẹ và kết quả vẫn nghèo nàn. Một ngoại lệ là sự chuyển đổi sang lọc máu ban đêm có tốc độ thụ thai cao hơn.

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*