Các bệnh lý khối u phụ khoa ở bệnh nhân lọc máu

thanhhungdialysis.com tiếp tục với nội dung CÁC BỆNH LÝ SẢN KHOA VÀ PHỤ KHOA ở bệnh nhân lọc máu với củ đề khối u phụ khoa ở bệnh nhân lọc máu.

Bài này thuộc Chương 39 trong SỔ TAY THẬN NHÂN TẠO

Xem danh mục bài viết phần BỆNH LÝ TẠI ĐÂY

VII. KHỐI U PHỤ KHOA

A. Lành tính

U xơ tử cung, hoặc leiomyomata, rất phổ biến, xảy ra nhiều đến 80% phụ nữ trên 30 tuổi, với xấp xỉ 25% trong số họ có triệu chứng. Không có thông tin về tỷ lệ trong suy thận mạn. U xơ tử cung thường xuất hiện chảy máu nhiều hoặc triệu chứng liên quan với tử cung lớn chèn ép cơ quan gần, mà có, đau, tức, táo bón. Leiomyomata có thể quản lý bằng theo dõi. Chỉ định cho điều trị bao gồm triệu chứng chảy máu, đau hoặc tức, bí tiểu, xoắn, thoái hóa với đau bụng cấp, xa qua cổ tử cung, và tăng kích cỡ sau khi mãn kinh. Phụ nữ vẫn còn trong độ tuổi sinh sản mà là người có khả năng là ứng viên ghép nên phẫu thuật cắt khối u thay vì cắt tử cung nếu phẫu thuật là khả thi để bảo vệ khả năng sinh sản. Gần đây, một số điều trị khác ngoài phẫu thuật cắt tử cung sẵn có, bao gồm điều trị thuốc với mifepristone (RU486, một thuốc phá thai), chủ vận giải phóng hormon gonadotropin, phẫu thuật cắt qua nội mạc tử cung, tiêu khối u, và tắc động mạch tử cung. Phẫu thuật cắt qua nội mạc tử cung không nên làm ở phụ nữ có kế hoạch sinh con bởi tăng nguy cơ vỡ tử cung khi mang thai.

B. Sàng lọc

Phụ nữ được điều trị lọc máu ít được chụp vú và pap smears hơn phụ nữ trong cộng đồng chung. Tỷ lệ ung thư cổ tử cung là tăng ở phụ nữ ESRD, trong khi tỷ lệ ung thư vú là tương tự như phụ nữ không có bệnh thận. Nhiều nghiên cứu gần đây đề nghị rằng sàng lọc cho bệnh lý ác tính ở phụ nữ ESRD có kết quả tăng không đáng kể tỷ lệ sống bởi tỷ lệ sống ngắn của bệnh thận giai đoạn cuối. Như một triển vọng đã không cho phép đối với khả năng mà bước tiến lớn sẽ được tạo ra trong chăm sóc của bệnh nhân ESRD để kéo dài tỷ lệ sống. Phụ nữ trẻ tuổi, phụ nữ đợi ghép thận, và phụ nữ tăng nguy cơ ung thư vú, buồng trứng, và cổ tử cung nên được sàng lọc. Phụ nữ với nguy cơ cao nhất của ung thư cổ tử cung bao gồm phụ nữ được điều trị ức chế miễn dịch hoặc gần đây điều trị ức chế miễn dịch, cho trước ghép hoặc tìm bệnh, hoặc phụ nữ với AIDS. Bệnh nhân đó nên làm pap smears hàng năm.

C. Đánh giá ung thư ở phụ nữ có triệu chứng.

Ung thư nội mạc tử cung thường xuất hiện chảy máu tử cung bất thường, điều tra và điều trị đã được thảo luận ở trên. Ung thư buồng trứng xuất hiện với triệu chứng bụng mơ hồ và muộn hơn là khối buồng trứng. Bụng không thoải máu, nôn, mất cân bao gồm bởi ung thư buồng trứng có thể bắt đầu giả như triệu chứng của tăng ure hoặc thực hiện lọc máu. Ở các bệnh nhân PD, ung thư buồng chứng có thể xuất hiện dịch lọc màng bụng mầu máu, một số lượng tế bào bất thường trong dịch màng bụng, hoặc một thay đổi mầu sắc của dịch. Một chỉ số cao của nghi ngờ cần thiết để phát hiện ung thư buồng trứng ở giai đoạn sớm và có thể can thiệp. Sử dụng CA125 (kháng nguyên ung thư 125) để sàng lọc cho ung thư buồng trứng là một chỉ số hạn chế ở bệnh nhân lọc máu. Nó không bị lọc hiệu quả bởi lọc máu và được tạo bởi tế bào mesothelia, tăng lên mức độ đỉnh, đặc biệt ở bệnh nhân lọc màng bụng.

D. Quy trình chẩn đoán

  1. Chụp một loạt X quang tiêu hóa thấp. Khi tiến hành chụp X quang tiêu hóa thấp, số lượng nước để pha loãng chất cản quang có thể được pha loãng ¼ với số lượng bình thường.
  2. Tiêm thuốc cản quang tĩnh mạch, nếu cần để tiến hành chụp CT hoặc chụp mạch, không bị chống chỉ định ở bệnh nhân lọc máu. Dù thêm  cản quang làm tăng thể tích và thẩm thấu trong lòng mạch, lọc máu ngay lập tức có thể được tiến hành trong trường hợp có triệu chứng hiếm. Lọc máu có thể được làm sau 1 ngày nếu không có triệu chứng. Một bệnh nhân lọc màng bụng có nhu cầu chụp CT ổ bụng nên kiểm tra với dịch lọc trong ổ bụng.
  3. Siêu âm bụng và tiểu khung. Bệnh nhân lọc màng bụng với nghi ngờ tổn thương tiểu khung và ổ bụng nên được siêu âm ở các khu vực. Ở những trường hợp đó bệnh lý tiểu khung thay đổi không thể quan sát mà không mở rộng bàng quang, bàng quang có thể làm đầy bằng sonde Foley.
  4. Siêu âm đầu dò âm đạo. Có thể phát hiện các bất thường rõ ràng hơn sử dụng siêu âm qua âm đạo, bởi gần ngay vị trí các cơ quan trong tiểu khung và thành âm đạo tương đối mỏng, có thể sử dụng sóng cao tần và do đó phản xạ cao hơn. Ngoài ra, thăm dò qua ổ bụng sẽ đem đến tầm nhìn toàn cảnh tiểu khung, cho tấy mối quan hệ cấu trúc chính ở các cơ quan trong tiểu khung và khả năng bệnh lý. Thăm dò qua âm đạo có thể cho hình ảnh tập trung hơn của các cơ quan, nhưng chỉ cho hình ảnh hiệu quả không sâu hơn 7 – 10 cm.

Không giống như siêu âm tiểu khung qua bụng, tốt nhất cho bệnh nhân để siêu âm qua âm đạo được làm trong khi bàng quang còn rỗng. Khi nhiều bệnh nhân lọc máu không thể làm đầy bàng quang trừ khi đặt sonde Foley và đổ dịch vào bàng quang, nó tạo cho cái nhìn để tiến hành đầu tiên siêu âm qua âm đạo nếu bệnh lý tiểu khung bị nghi ngờ và tiến hành với siêu âm tiểu khung qua bụng nếu thống tin cần thiết không thể thu được với tiếp cận qua âm đạo. Bệnh nhân PD nên đổ đầy bụng cho siêu âm qua bụng và làm rỗng cho siêu âm qua âm đạo.

  1. Chụp cộng hưởng từ. Đối với phụ nữ lọc màng bụng, MRI ổ bụng có thể được làm mà không có cản từ, sử dụng dịch lọc như một cản từ. Điều này làm MRI ổ bụng và tiểu khung thành phương thức tốt nhất để đánh giá cấu trúc giải phẫu bất thường ở phụ nữ PD. Sử dụng gadolinium như thuốc cản từ để nâng cao MRI nên được làm chỉ sau khi cân nhắc đến nguy cơ nặng có khả năng của xơ hóa hệ thống thận. Có bằng chứng rằng nguy cơ xơ hóa là không cao như đã được suy nghĩ (Amet, 2014).

D. Điều trị

Điều trị ung thư sản phụ khoa và khối u ác tính ở phụ nữ suy thận mạn bao gồm phẫu thuật và hóa chất.

  1. Phẫu thuật

Ở bệnh nhân PD, bất kỳ quy trình sản khoa nào can thiệp sâu hơn PAP smears (như sinh thiết nội mạc hoặc cổ tử cung) nên tiến hành với ổ bụng rỗng. Bệnh nhân nhận được kháng sinh dự phòng như thảo luận ở dưới.

Ở các bệnh nhân với catheter ổ bụng thực hiện thao tác tiểu khung hoặc ổ bụng, chúng tôi đưa catheter ở vị trí trừ khi có nhiễm trùng đồng thởi của ổ bụng. Khi có nguy cơ rõ nhưng thấp của đồng mắc nhiễm trùng ổ bụng như trong phẫu thuật âm đạo, chúng tôi thêm 1 g vancomycin hydrochloride và 1 g cefoxotin dự phòng tĩnh mạch chỉ trước phẫu thuật. Nếu bệnh nhân được biết nhiễm Pseudomonas, tobramycin 2 mg/Kg tĩnh mạch nên thêm vào phác đồ dự phòng. Sau thao tác, catheter được cho 500 mL dịch lọc ổ bụng 3 lần hàng ngày để duy trì. Lọc màng bụng được giảm đến 1 ngày khi dịch không có mầu máu dài. Chúng tôi đợi 10 ngày đến 2 tuần trước khi sử dụng lại catheter, duy trì bệnh nhân chạy thận trong thời gian này.

  1. Hóa chất

Sử dụng hóa chất ở bệnh nhân lọc máu nằm ngoài phạm vi của Sổ tay này.

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*