Chảy máu tử cung bất thường ở phụ nữ lọc máu

thanhhungdialysis.com tiếp tục với nội dung CÁC BỆNH LÝ SẢN KHOA VÀ PHỤ KHOA ở bệnh nhân lọc máu với củ đề Chảy máu tử cung bất thường

Bài này thuộc Chương 39 trong SỔ TAY THẬN NHÂN TẠO

Xem danh mục bài viết phần BỆNH LÝ TẠI ĐÂY

VI. CHẢY MÁU TỬ CUNG BẤT THƯỜNG

Năm 2011, International Federation of Gynecology and Obstetrics (FIGO) phát triển thuật ngữ mới cho cái trước đó được gọi là “ chảy máu tử cung suy chức năng” và thuật ngữ “chẩy máu tử cung bất thường” hiện nay được ưu tiên.

A. Tỷ lệ

Nhiều phụ nữ vô kinh khi mức lọc cầu thận hạ xuống thấp hơn 10 mL/phút. Kinh nguyệt trở lại ở khoảng 60% khi lọc máu được bắt đầu. Chu kỳ kinh nguyệt phổ biến hơn ở phụ nữ tiền mãn kinh có bệnh thận giai đoạn cuối so với những ngày sớm của lọc máu; tuy nhiên, trên một nửa phụ nữ ESRD những người báo cáo kinh nguyệt đa kinh. Phụ nữ HD và người PD báo cáo bất thường kinh nguyệt giống nhau. Xấp xỉ 60% người có chu kỳ kinh bất thường. Chảy máu tử cung bất thường là phổ biến và là mối quan ngại bởi nó có thể là dấu hiệu sớm của ung thư tử cung. Mất máu có thể dẫn đến thiếu máu nặng cả khi ở người phụ nữ được điều trị erythropoietin, dù erythropoietin đã được dùng để điều trị chảy máu tử cung bất thường sớm hơn đáng kể.

B. Điều trị

  1. Sàng lọc các bệnh ác tính

Điều trị phụ thuộc vào tuổi và nguy cơ ung thư. Có một số đề nghị phụ nữ chạy thận nhân tạo có thể dường như có bất sản nội mạc và ung thư nội mạc hơn so sánh với phụ nữ không có bệnh thận, vì vậy một chỉ số cao của nghi ngờ được cảnh báo.

a. Khi phụ nữ cao hơn 40 tuổi, có chảy máu tử cung bất thường được lấy mẫu nội mạc. Nhìn chung, sinh thiết nội mạc tử cung được làm ở phòng được thay thế cho nong và nạo tử cung, do có sự tương quan tốt giữa các mảnh mô bệnh học của nội mạc tử cung được lấy bởi sinh thiết ở phòng sinh thiết và tiến hành nong và nạo, hoặc chảy máu kéo dài sau một sinh thiết âm, xét nghiệm sâu hơn nên được làm.

b. Phụ nữ ít hơn 40 tuổi. Nguy cơ ung thư tương đối nhỏ, và Papanicolaou smear là đủ để sàng lọc bệnh ác tính.

2. Chống đông

Liều heparin thấp nhất có thể được sử dụng để tiến hành chạy thận nhân tạo khi phụ nữ đang trong kinh nguyệt. Các kỹ thuật không heparin đã được mô tả trong Chương 14.

  1. Dịch màng bụng mầu máu trong lọc màng bụng

Trong thời gian kinh nguyệt hoặc rụng trứng, dịch lọc màng bụng có thể có mầu máu (Lew, 2007). Không có điều trị đặc hiệu, ngoại trừ có lẽ tránh thêm heparin vào dịch lọc màng bụng. Ở một số trường hợp, chảy máu từ phúc mạc có thể xảy ra, đòi hỏi ức chế rụng trứng (Harnett, 1987). Một hình ảnh viêm màng bụng không nhiễm trùng trong thời gian kinh nguyệt hoặc rụng trứng đã được báo cáo (Poole, 1987). Dịch lọc màng bụng có mầu máu thường xảy ra sau can thiệp sản khoa.

  1. Điều trị thiếu máu

Thiếu máu được điều trị bằng erythropoietin, như ở các bệnh nhân lọc máu khác. Chẩy máu tử cung nặng làm tăng nhu cầu sắt và thêm sắt tĩnh mạch có thể cần.

  1. Điều trị hormon

Đưa ra bằng chứng điều trị thay thế nội tiết có thể tăng tỷ lệ các biến cố tim mạch, và tỷ lệ tử vong do tim mạch quá cáo ở phụ nữ ESRD, các nguy cơ liên quan đến điều trị thay thế hormon có thể vượt quá so với các lợi ích (xem thảo luận ở dưới).

a. Đưa progesterol trong tử cung trong dạng Hệ thống levonorgestrel (Mierna) có lẽ là điều trị an toàn và là điều trị lựa chọn đầu tiên cho bệnh nhân chạy thận nhân tạo trải qua chảy máu tử cung bất thường. Khi thiết bị trong tử cung được cấy, kinh nguyệt không đầy đủ hình thành trong 3 tháng. Viêm màng bụng đã được báo cáo sau đặt IUDs ở các bệnh nhân PD, vì vậy các bệnh nhân đó nên nhận được dự phòng trước khi đặt IDU (Hướng dẫn American College of Cardiology không khuyến cáo dự phòng kháng sinh trước khi đặt IDU để phòng ngừa viêm màng tim). Hệ thống này có tác dụng cao và ở phần lớn các trường hợp tránh được sự cần thiết cho hệ thống điều trị hormon.

b. Thuốc tránh thai đường uống có thể là lựa chọn điều trị thứ hai, nhưng chúng thường bị tránh nếu kiểm soát huyết áp hoặc nguy cơ tắc mạch là một vấn đề. Các lợi ích về mặt lý thuyết của sử dụng estrogen progesterol phối hợp để đề phòng ung thư tử cung và loãng xương đã được thảo luận ở trên.

c. Medroxypogesterol acetae (Depo-Provena).

Progesterol có thể được đem đến bằng đường tiêm bắp như Depo-provena 100 mg 1 lần một tuần hay đường uống 10 mg hàng ngày cho 10 ngày đầu tiên của chu kỳ kinh nguyệt. Thuốc này làm đảo ngược tốt nhất cho các bệnh nhân đa kinh mạn không đáp ứng nhiều với điều trị hormon đường uống hoặc trong tử cung. Bởi vì nhiều bệnh nhân lọc máu có xu hướng chảy máu, tiêm bắp thường xuyên là khó được mong muốn. Tuy nhiên, nửa đời của medroxyprogesterol acetate ở bệnh nhân lọc máu không thể đoán trước. Progestin làm việc tốt nhất trong chảy máu không rụng trứng.

d. Chủ vận giải phóng hormon Gonadotropin. Chúng có thể dùng đường tiêm bắp 1 lần một tháng (leuprolide acetate) hoặc một liều nhỏ mũi. Các thuốc đó rất đắt tiền và nên được dùng cho các bệnh nhân liên tục chảy máu kinh nguyệt nặng và không đáp ứng với progesterol trong tử cung, thuốc tránh thai đường uống, hoặc progestin. Có một báo cáo tăng kích thích buồng trứng ở một bệnh nhân lọc máu mạn nhận được hai liều leuprolide actate (Hamton, 1991).

e. Estrogen tiêm tĩnh mạch liều cao. Ở trường hợp mất máu cấp tính nặng, liều cao estrogen có thể được sử dụng, 25 mg estrogen liên hợp tiêm tĩnh mạch mỗi 6 giờ. Chảy máu thường giảm trong 12 giờ.

f. Deamino arginin vasopressin (DDAVP). Trong trường hợp mất máu cấp khi thời gian chảy máu kéo dài, DDAVP nên dùng liều 0.3 pg/kg trong 50 mL nước muối sinh lý môi 4 – 8 giờ cho 3 đến 4 liều.

6. Các thuốc chống viêm nonsteroid

Chúng đã được chỉ ra là hiệu quả ở phụ nữ rụng trứng. Các thuốc đó có thể ít tác dụng hơn trong bối cảnh ESRD bởi tăng tỷ lệ vòng kinh không rụng trứng ở phụ nữ ESRD. Không những vậy, phụ nữ với ESRD tăng nguy cơ cho các biến chứng dạ dầy.

  1. Cắt nội mạc tử cung

Cắt nội mạc tử cung có thể được tiến hành bởi nhiều kỹ thuật phẫu thuật: cắt nội mạc tử cung bằng laze, quang đông, bóng lăn, hoặc cắt vòng. Các bệnh nhân được điều trị trước với danazol hoặc hormon giải phóng gonadotropin trong 3 – 4 tuần trước khi tiến hành để làm mỏng nội mạc. Kỹ thuật có thể dẫn đến vô sinh vĩnh viễn.

  1. Cắt tử cung

Đối với phụ nữ có chảy máu tử cung suy chức năng rõ ràng, cắt tử cung có thể tiếp cận lựa chọn. Phẫu thuật nội soi cắt tử cung hiện nay là lựa chọn và đối với leiomyomata quá lớn cho phẫu thuật nội soi, các hormon giải phóng gonadotropin có thể được dùng để giảm kích thước để làm phẫu thuật. Tiến hành nên cẩn thận, thảo luận với bệnh nhân và các vấn đề y tế đi kèm khác và các ngy cơ của phẫu thuật nên được chú ý. Với sự xuất hiện của cắt nội mạc tử cung bằng laze, phẫu thuật cắt tử cung hiện nay có lẽ dành cho phụ nữ chảy máu thứ phát với u xơ tử cung hoặc bệnh lý tử cung hoặc xương chậu khác mà chính nó cảnh báo cần phẫu thuật. Cắt tử cung nên được làm chỉ như một kỹ thuật cấp cứu ở phụ nữ trước mãn kinh những người là ứng viên ghép thận bởi sau này sẽ có khả năng có thai lại.

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*