Chuyển dạ và sinh nở ở bệnh nhân lọc máu mang thai

Thanhhungdialysis.com tiếp tục loạt bài về CÁC VẤN ĐỀ SẢN PHỤ KHOA ở bệnh nhân lọc máu với nội dung chuyển dạ và sinh nở ở bệnh nhân lọc máu.

Bài này thuộc Chương 39, SỔ TAY THẬN NHÂN TẠO

Xem danh mục phần BỆNH LÝ TẠI ĐÂY

III. CHUYỂN DẠ VÀ SINH NỞ Ở PHỤ NỮ LỌC MÁU

80% trẻ sơ sinh được sinh ra từ bệnh nhân lọc máu là sinh non. Các lý do cho sinh non bao gồm chuyển dạ non tháng, tăng huyết áp thai kỳ, suy thai, với chuyển dạ non tháng là phổ biến nhất.

Các nỗ lực để đề phòng chuyển dạ non tháng đã được sử dụng trong rất nhiều chương trình phòng ngừa chuyển dạ non tháng, và nó không được sử dụng ở bệnh nhân lọc máu, các nguy cơ chuyển dạ non tháng của họ là cao và nên được cân nhắc các phương pháp sử dụng.

Chuyển dạ non tháng ở bệnh nhân lọc máu đã được điều trị thành công với terbutaline, magie, nifedipin, và indomethacin. Magie được sử dụng đường tĩnh mạch ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo và được thêm vào dịch lọc màng bụng ở bệnh nhân lọc màng bụng. Magie phải được sử dụng với chú ý cao ở phụ nữ suy thận. Mức độ máu nên được theo dõi thường xuyên. Liều nạp có thể được đưa, nhưng liều thêm chỉ được dùng sau lọc máu và khi nồng độ còn thấp. Sử dụng magie trong sự phối hợp với nifedipin nên tránh bởi phối hợp này có thể dẫn đến hạ huyết áp nặng. Indomethacin đã được sử dụng thành công, nhưng bệnh nhân phải được theo dõi thiểu ối, và thai nhi phải được theo dõi giãn thất phải. Indomethacin có thể chỉ được sử dụng trong một thời gian ngắn. Trong khi toàn bộ các tocolytic (các thuốc giản cơ hay ức chế chuyển dạ) (một tycolytic là một thuốc kháng co cơ được sử dụng để ức chế chuyển dạ) được sử dụng trong một thời gian ngắn, chuyển dạ non tháng thường hay tái phát, và sử dụng lại indomethacin gây ra nhiều vấn đề. Ở phụ nữ còn chức năng thận tồn dư, sử dụng indomethacin có thể gây ra giảm nặng mức lọc cầu thận và sự cần thiết của lọc máu tăng lên.

Trẻ sơ sinh của các bệnh nhân lọc máu thường nhỏ hơn so với tuổi thai, nhưng không rõ ràng liệu sự chậm phát triển là hậu quả của các độc tố uremic hay tăng huyết áp thai kỳ. Giảm giới hạn tăng trưởng trong tử cung ở bệnh nhân lọc máu ban đêm đề nghị vai trò cho sự tích lũy các độc tố uremic. Có một sự tăng nguy cơ của thai chết lưu ở bệnh nhân lọc máu, và theo dõi thai nên bắt đầu ngay khi có sự thay đổi chức năng sống bên ngoài của mẹ (26 tuần).

Ở bệnh nhân PD, mổ lấy thai có thể được làm bên ngoài màng bụng, đưa catheter vào vị trí, và PD có thể làm lại 24 giờ sau lấy thai, bắt đầu với thể tích nhỏ và tăng lên trong vòng 48 giờ. Nếu dò vết mổ, bệnh nhân có thể chạy thận nhân tạo trong 2 đến 4 tuần.

Ngay cả khi đứa trẻ là bình thường vẫn nên được theo dõi ở khu vực sơ sinh nguy cơ cao. Ở lúc sinh, trẻ sơ sinh, trẻ mà thận bình thường cho tuổi thai, BUN máu và creatinin huyết thanh được theo dõi giống như của mẹ, và trẻ sẽ trải qua giai đoạn lợi tiểu, cần theo dõi cẩn thận điện giải và tình trạng dịch.

Những điều đó không xuất hiện bất kỳ tăng nguy cơ của dị tật bẩm sinh, nhưng thông tin đang lớn và phát triển vẫn còn sơ sài.

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*