Các biến chứng trong lọc màng bụng cấp cứu

Tiếp tục với nội dung trong lọc màng bụng cấp cứu, tôi xin trình bầy với bạn đọc các biến chứng trong lọc màng bụng cấp cứu và cách phòng ngừa, xử trí biến chứng

Bài này thược CHƯƠNG 24 TRONG SỔ TAY THẬN NHÂN TẠO

Xem danh mục PHẦN LỌC MÀNG BỤNG TẠI ĐÂY

IV. CÁC BIẾN CHỨNG TRONG LỌC MÀNG BỤNG CẤP

Một số vấn đề có thể xuất hiện trong PD cấp. Chúng bao gồm chấn thương cơ học, nhiễm trùng, và các vấn đề chuyển hóa.

A. Các biến chứng cơ học

Dẫn lưu không hòa toàn có thể dẫn đến “quá đầy”, mà làm tích lũy dịch lọc trong ổ bụng, với sự khó chịu, chướng bụng, và ảnh hưởng đến hô hấp. Các vấn đề liên quan đến catheter hậu quả của dẫn lưu kém là nguyên nhân chính của vấn đề này, dù sự bám dính trong ổ bụng hoặc các quai ruột có thể góp phần. Người ta nên quan sát vòng dẫn lưu và đảm bảo rằng bệnh nhân hoàn toàn hết dịch trong thời gian dẫn lưu. Các vấn đề cơ học xảy ra lên đến 10% bệnh nhân PD cấp.

B. Viêm màng bụng

Tỷ lệ viêm màng bụng trong khoảng 4 đến 41% trong điều trị PD cấp ở các nghiên cứu khác nhau. Điều này thường xảy ra nhất sau 48 giờ và phổ biến hơn với hệ thống dẫn lưu mở so với dẫn lưu đóng. Dù các nhiễm trùng từ các vi khuẩn gram dương, vẫn có tỷ lệ cao viêm màng bụng là gram âm và nấm trong PD cấp. Điều này có thể phản ánh mức độ nặng của bệnh cấp tính ở bệnh nhân cần PD cấp cũng như các yếu tố đã định trước, như sử dụng nhiều kháng sinh kéo dài.

C. Tăng đường máu

Số lượng glucose hấp thụ trong quá trình PD thay đổi đáng kể giữa các bệnh nhân do sự khác biệt tính thấm màng bụng và nồng độ dextrose sử dụng. Người vận chuyển nhanh hấp thu glucose nhanh hơn. Ở bệnh nhân CAPD với 4 lần thay dịch mỗi ngày, 60-80% glucose truyền vào bị hấp thu. Với thay dịch nhanh hơn, như sử dụng PD tự động, số lần thay nhiều hơn và thời gian lưu dịch ngắn hơn, hấp thu glucose sẽ giảm. Một nghiên cứu 31 bệnh nhân AKI điều trị HVPD, hấp thu glucose khoảng 35% (Goes, 2013). Để tránh hoặc giảm tăng đường máu ở bệnh nhân điều trị PD, hấp thu glucose từ dịch lọc nên được tính toán khi tính toán tổng năng lượng cho bệnh nhân PD. Ngoài ra, khi phát hiện tăng đường máu, tần xuất theo dõi glucose máu (khoảng mỗi 6 giờ) nên được tiến hành, và nên cân nhắc thêm insulin dưới da, tĩnh mạch, và/hoặc màng bụng. Trong các nghiên cứu ở bệnh nhân HVPD, mức độ glucose được duy trì tốt (giữa 130 – 170 mg/dL; 7.2 – 9.4 mmol/L) sử dụng cả insulin IV và IP.

D. Tăng natri máu

Do hệ số sàng thấp đối với natri liên quan đến nước đi qua kênh siêu nhỏ, siêu lọc làm PD có nồng độ natri xấp xỉ 70 mmol/L. Tăng mất nước liên quan đến tần xuất thay dịch áp lực thẩm thấu cao (ưu trương) có thể dẫn đến tăng natri máu. Truyền tĩnh mạch thay thế dịch áp lực thẩm thấu thấp (nhược trương) hoặc thay thế một nửa lượng mất bằng dịch glucose 5% để đề phòng tăng natri máu.

E. Hạ albumin máu

Với việc thường xuyên thay dịch trong PD cấp, mất protein qua dịch lọc có thể cao 10 – 20 g mỗi ngày và tăng gấp đôi nếu có viêm màng bụng. Uống hoặc tăng cường dinh dưỡng nên được cân nhắc ở bệnh nhân suy dinh dưỡng. Nhìn chung, mất protein qua lọc máu không hạn chế sử dụng PD ở bệnh nhân AKI.

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*