Vấn đề kiểm soát dinh dưỡng trong lọc màng bụng

Hấp thu glucose dịch lọc làm cho dinh dưỡng trong lọc màng bụng trở lên phức tạp. Trong khi đó, tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân là một yếu tố tiên lượng quan trọng.

Bài này thuộc CHƯƠNG 25 – LỌC MÀNG BỤNG ĐẦY ĐỦ VÀ Y LỆNH LỌC MÀNG BỤNG

Xem danh mục PHẦN LỌC MÀNG BỤNG TẠI ĐÂY

IV. CÁC VẤN ĐỀ DINH DƯỠNG TRONG LỌC MÀNG BỤNG

Tình trạng dinh dưỡng ở bệnh nhân lọc màng bụng được chỉ ra nhiều lần để tiên đoán tỷ lệ sống và các kết quả khác của bệnh nhân. Người ta khuyến cáo mạnh rằng các chỉ điểm của dinh dưỡng được theo dõi thường xuyên để xác nhận bệnh nhân nguy cơ cao và các mục tiêu của chúng để can thiệp thích hợp.

A. Các chỉ số dinh dưỡng

  1. nPNA

nPNA sớm được đo sử dụng cùng với mẫu dịch lọc 24 giờ và nước tiểu 24 giờ như sử dụng để tính Kt/V. Giải thích rằng, trong tình trạng bền vững, đào thải nitrogen là tỷ lệ với lượng protein ăn vào. Một sự đa dạng của các công thức đã được thiết kế để ước tính nPNA từ đào thải nitrogen và protein. Một công thức hợp lý được phát triển bởi Bergström (1998) (xem bảng 25.5 cho công thức và mẫu tính toán). Trước đây, ước tính PNA đã được bình thường hóa đến cân nặng thực tế, nhưng điều này có thể dẫn đến chỉ số nPNA cao một cách sai sót ở nhưng bệnh nhân suy dinh dưỡng và thấp bất hợp lý ở bệnh nhân béo phì (Harty, 1994). Việc bình thường hóa có thể được mong muốn hoặc cân nặng lý tưởng dựa trên bản nhân trắc học ngày nay được ưu thích. nPNA mục tiêu được khuyến cáo cho bệnh nhân lọc màng bụng là 1.2 g/kg mỗi ngày, nhưng điều này có thể không cần thiết cao cho nhiều bệnh nhân thường xuyên đạt được cân bằng ở chế độ ăn thấp hơn. Một nPNA giảm xuống hoặc mức độ thấp hơn 0.8 g/lg mỗi ngày nên đưa đến một mối quan tâm, đặc biệt nếu có biểu hiện bằng các bằng chứng khác cho dinh dưỡng nghèo nàn.

Bảng 25.5: Tính nPNA với ví dụ
Công thức Bergström

1. PNA (g/d) = 20.1 + 7.5 UNA (g/d)

Hoặc

2. PNA (g/d) = 15.1 + 6.95 UNA (g/d) + protein mất qua dịch lọc (g/d)

UNA (g/d) = Ure mất qua nước tiểu (g/d) + ure mất qua dịch lọc (g/d)

Sử dụng công thức (1) nếu protiein mất qua dịch lọc không được biết và công thức (2) nếu biết.

Bình thường hóa PNA với trọng lượng cơ thể đưa ra nPNA. Cân nặng thực tế, nếu sử dụng, có thể đưa ra một chỉ số cao sai sót ở bệnh nhân suy dinh dưỡng và thấp sai sót ở bệnh nhân béo phì.

Bình thường hóa với cân nặng tiêu chuẩn dựa trên bảng nhân trắc học dược ưu tiên.

Ví dụ

Một nam giới, 60 kg, CAPD 4 x 2.5L hàng ngày có thể tích đào thải dịch lọc là 12L chứa 58.3 mg/dL ure nitrogen vì vậy mà tổng = m12 x 58.3 x 10 = 7000 mg = 7g ure nitrogen. Thể tích nước tiểu 24 giờ là 500 mL chứa 560 mg/dL = 2800 mg = 2.8 g urenitrogen

UNA toàn bộ = 7 + 2.8 = 9.8 g/ngày

Mất protein dịch lọc là 8 g/ngày.

Do đó

PNA = 15.1 + 6.95 (9.8) + 8 = 92.1 g/d

nPNA dựa trên cân nặng thực tế = 91.2/60 = 1.52 g/kg/d

Bệnh nhân có mất cân, truy nhiên, bảng nhân trắc học đề nghị cân nặng tiêu chuẩn là 72 kg.

nPNA cho cân nặng này la f91.2/72 = 1.27 g/kg/d

  1. Lượng calo

Vấn đề này thỉnh thoảng bị lãng quên ở bệnh nhân lọc màng bụng vì nó không dễ dàng tính toán như protein. Trong lọc màng bụng, lượng calo là một phối hợp của calo ăn uống cộng với calo từ glucose được hấp thụ từ dịch lọc.

Mục tiêu đề nghị là 35 Kcal/kg mỗi ngày, thường, 10 đến 30% lượng calo này sẽ đến từ glucose dịch lọc, lượng glucose hấp thu phụ thuộc vào độ thẩm thấu dịch , thời gian lưu, và thể tích dịch đã sử dụng, cũng như đặc tính PET của bệnh nhân, mà ảnh hưởng đến tỷ lệ phần trăm của hấp thu glucose. Đo lượng năng lượng yêu cầu đánh giá chế độ ăn cộng với định lượng glucose hấp thu. Sau đó có thể tính trực tiếp bằng trừ đi số lượng trong dịch thải từ số lượng xuất hiện trong dịch lọc ban đầu.

  1. Albumin huyết tương

Đây là một chỉ số tiên lượng mạnh nhất của tỷ lệ sống bệnh nhân lọc màng bụng. Albumin huyết thanh trong cộng đồng này là nhiều hơn một dấu ấn dinh dưỡng, khi nó bị ảnh hưởng của tình trạng vận chuyển màng bụng, mà ảnh hưởng của nó là mất albumin dịch lọc, và xuất hiện bệnh lý cấp tính toàn thân hoặc viêm, được đánh giá bằng các mức độ huyết tương của các chất phản ứng pha cấp, như protein C phản ứng (Yeun, 1997). So sánh với các yếu tố trên, chế độ ăn protein chỉ tác dụng nhỏ lên albumin huyết thanh.

  1. Đánh giá chủ quan toàn bộ (SGA)

Đây là một công cụ lâm sàng đơn giản là dễ làm ở tại giường bệnh, khai thác tiền sử chế độ ăn và các kiểm tra sinh lý, và đã được cho thấy là tiên đoán kết quả bệnh nhân. SGA được mô tả chi tiết trong Chương 31.

  1. Đào thải creatinin

Thành phần creatinin toàn bộ được đo cùng với mẫu dịch lọc và nước tiểu 24 giờ để tính toán độ thanh thải có thể được sử dụng để ước tính khối nạc cơ thể (Keshaviah, 1995). Các ước tính creatinin đào thải là yếu tố tiên lượng kết quả bệnh nhâ, và chỉ số thấp hoặc giảm xuống xác nhận một bệnh nhân đang trong tình trạng nguy cơ.

B. Điều trị suy dinh dưỡng

Xem chi tiết trong Chương 31

  1. Dịch lọc chứa amino acid

Amino acid trong ổ bụng đã được nghiên cứu nhiều và có sẵn ở nhieieuf quốc gia, dù không có ở Hoa Kỳ. Chúng thường được bổ sung như một dịch lưu 2L trong thời gian lưu ban ngày ở CAPD hoặc APD, sử dụng “lựa chọn túi cuối cùng”. Khoảng 85% lượng amino acid chứa trong túi dịch sẽ được hấp thu nếu nó được lưu 6 giờ. Thức ăn nên được dùng ở cùng thời gian lưu dịch để tối đa lợi ích của amino acid được hấp thu. Chiến lược được làm để cải thiện cân bằng nitrogen nhưng có ít bằng chứng của một tác dụng ấn tượng trên các kết quả lâm sàng quan trọng. Nghiên cứu ngẫu nhiên tốt nhất đến nay đề nghị rằng amino acid liên quan với duy trì thời gian dài của các chỉ số dinh dưỡng, đặc biệt ở phụ nữ, nhưng không có nghiên cứu nào đủ lớn để xác nhận bất kỳ tác dụng có lợi trên chất lượng sống (Li, 2003a).

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*